Thơ

Trang thơ Nguyễn Minh Châu
Thơ - Tuấn TT
Chùm thơ Đông Hương
Thơ - Huy Văn


Thơ Văn 2020
Thơ Văn 2019
Thơ Văn 2018
Thơ 2017 - 2022
Thơ Văn 2023


Hoàng hôn bên đồi
Nén hương mùa kiếp nạn
Tháng Tư… Trang sử…
Thằng lính già thương cảm
Thằng lính già cô độc
Thằng lính già ngủ mơ
Thằng lính già hoài niệm
Thằng lính già nhớ bạn
Phục Sinh nhiệm màu
Thương tích
Nửa đêm tỉnh giấc
Vá cờ
Xuân...và Quê tôi
Đă 50 năm
Ai nợ ai…?
Nỗi ḷng viễn xứ
Quà tặng
Quê hưong ngàn trùng
Đừng gọi tôi là ân nhân
Mùa Thu đất khách
Quê hương tôi đánh mất
Từ biệt đồng đội
Dậy đi em
Ngày chia tay
Hương xưa của tôi
Nặng trĩu niềm dau
Nổi sầu muôn thuở
Thương em…
Đếm Sao…
Hè về không Phượng đỏ
Về thăm chốn xưa
Ḍng Đời …
Ước mơ Phá Tam Giang
Ánh trăng xưa
Anh hùng tử, khí hùng bất tử
Một bài thơ không tên
45 năm đợi chờ & mơ ước
Sài G̣n yêu
Ngày đại thọ
Ḷng sơn gửi tạm giữa đất trời
Mông lung
Ḥn khô
Đêm ngủ tôi mơ
Cali mùa hạnh ngộ
Nhớ măi
Vẫn t́m em
Tháng tư hành
Gánh phù vân
Quốc hận
Nhắn lời
I am a soldier born to die
Tháng 2! Xuân vẫn ngát hương đời
Nhớ xuân xưa
Xin em
Cũng đành thôi
Đêm xuân nhớ mẹ
Mừng sinh nhật
Phút cuối
Đoản khúc Đà Lạt
Chờ
Hương ḷng
Nỗi ḷng biết ngỏ cùng ai ?
Cho anh nói lời xin lỗi với thằng em
Hồn thức giấc
Khóc cho người nằm xuống
Vọng cố hương… nỗi nhớ
Nỗi niềm riêng
Hương xưa của tôi
Mùa Trạng Nguyên

 

 

 

 

 

 


Những Nhân Chứng Sống Sót
             Của Một Thời Thảm Khốc
 

 

 

-                                                          

Từ Thức

 

Vào năm giảm tô, ông nội bị bắt giam. Ông bị treo lên, đầu dọng xuống đất. Sao lại dọng đầu ông xuống đất, sau này tôi hỏi mẹ. Mẹ bảo, để cho ông có nuốt vàng vào trong bụng th́ nhả ra. Họ dọng đầu ông như thế từ sáng đến trưa, từ trưa đến tối. Cho đến lúc không tra khảo ǵ nữa th́ tống vào tù”.

Đó là một cảnh đấu tố trong cuốn “Gia Đ́nh” của Phan Thuư Hà (Nhà Xuất bản Phụ Nữ Việt Nam), ra mắt năm 2020. Tác giả đi gặp, ghi lại lời kể của những nhân chứng c̣n sống sót thời Cải Cách Ruộng Đất kinh hoàng, đẫm máu ở miền Bắc, từ năm 1953 tới 1956.

“ĐOẠN ĐỜI NIÊN THIẾU”, là cuốn thứ hai, cùng một đề tài, vừa được Hội Nhà Văn xuất bản ở Hà Nội (năm 2023).

Người đọc, dù đă biết, đă đọc những chuyện tàn khốc, man rợ về những cuộc đấu tố, sẽ sững sờ trước những sự kiện, những kỷ niệm sống, vượt xa sức tưởng tượng của những nhà văn giầu tưởng tượng nhất.

Hơn cả cái tàn ác, cái làm cho người đọc kinh hoàng là sự hủy hoại t́nh người, mà Tô Thuỳ Yên gọi là cái “thương tổn nặng nề cho nhân phẩm”.

Gấp sách lại, người đọc tự hỏi: Tại sao con người có thể độc ác, tàn tệ với nhau đến như vậy? Nhất là đây không phải là nghĩa vụ “uống máu quân thù”.

Đối tượng không phải là giặc Pháp, cũng chưa có “Mỹ Nguỵ”. Đối tượng là những người láng giềng, cha mẹ, anh em, chiến hữu đă cùng nhau vào sinh ra tử, những người cùng chung và cùng đổ máu để xây dựng “thiên đường xă hội chủ nghĩa”, hôm trước là chiến sĩ gương mẫu, hôm sau bị quy là địa chủ bóc lột, v́ có vài sào ruộng, một con trâu, một đàn gà. Hay chỉ v́ một chút hận thù, ganh ghét cá nhân.

 

GIA Đ̀NH TAN NÁT.

 “Mẹ tôi nói: Cha đấy con. Cha con là người vừa bị bịt mắt giải khăn đen kia. Cha giật giải khăn đen ra: Tôi không có tội ǵ cả. Đảng Cộng sản VN muôn năm. Chủ tịch HCM muôn năm (…) Buổi chiều trước ngày cha bị bắn, mẹ đưa cơm cho cha. Cha ăn cơm xong, người ta trả cái giỏ đựng nồi cơm cho mẹ. Mẹ thấy ở dưới đáy nồi mẩu giấy nhắn của cha: Ai ngờ vô tội mà chết oan. Âu cũng là số kiếp. Gắng mà nuôi con. Sau này Đảng có hỏi th́ tŕnh bày tới nơi tới chốn (Gia Đ́nh. tr.171).

Đây không phải là một cuốn sách hư cấu.

Dưới 2 cái tựa hiền lành, gần như lạnh lùng, tác giả ghi lại lời kể của các nhân chứng, không một lời b́nh luận. Những dự kiện trần truồng, không gói ghém, càng khiến cái man rợ, man rợ hơn.

Sự thực, cũng chẳng cần b́nh luận. Sự kiện, tự nó, nó nói. Khi cái man rợ lên tới tột độ, lời b́nh luận trở thành thừa thăi.

Gia Đ́nh (274 trang) là chuyện của 19 người, Đoạn Đời Niên Thiếu (250 trang), 20, tổng cộng 49 nhân chứng, 39 gia đ́nh tan nát.

Mỗi trang là một thảm kịch. Mỗi câu chuyện trong hai cuốn sách có cái tựa mang tên người kể chuyện: Lê Xuân Đài, Đặng Thị Dung, Đặng Văn Chương v.v…

Đoạn trích trên đầu bài là lời kể của nhân chứng Vơ Tá Tạo (GĐ, trang 49-53). Ngoài ông nội, bị treo ngược đầu, sau đó chết v́ bệnh

-“Bác Vơ Tá Cảnh, con trai cả của ông bà, chết trong trai giam. Có người nói bác tự vẫn (…). Anh chết, em phải thế mạng. Cha tôi, Vơ Tá Tân, phải đền tội thay Vơ Tá Cảnh. Cha về làng để nhận án tử h́nh thay thế bác Cảnh (…). Trên quả đồi trọc, những bó đuốc giơ lên. “Cho mi nói một lời cuối cùng với bà con nông dân”. Cha nói: Con thưa bà con nông dân, con là một thằng phản dân, phản đảng, phản nước, con xin ông bà nông dân tha tội bắn cho con… Ba phát súng. Ở nhà chúng tôi nghe rơ. Cha tôi gục xuống”.

Trước khi xử tử, người ta quy tội. Có người bị hành hạ v́ tội đă học tiếng Pháp, chắc chắn là để làm mật thám cho Tây. Có người bị kết án v́ lư do ngớ ngẩn: Thằng Bản (địa chủ bị gọi là thằng, xưng con, bất chấp tuổi tác) chặt cây ngụy trang chỉ điểm cho giặc. Bởi v́ có lần bà ta đi ngang ngơ thấy cha tôi bắc thang trèo cây, tỉa bớt cành lá (GĐ. tr.27).

Tội trạng như vậy, đủ để bị trói, bị quỳ trên sỏi đá, cho dân làng nhục mạ/.

-“Buổi chiều, tôi gấp một chiếc giẻ may vào phần đầu gối chiếc quần cho cha quỳ đỡ đau buốt. Đứa nào vay thêm vải này cho mày? Dạ thưa, con Tư may. Lớp giẻ độn sau chiếc quần bị tháo ra. Đêm đó cha bị quỳ lâu hơn, đá nhọn dồn lên đầu gối sắc hơn hôm qua (GĐ. tr. 28).

Cái đói, cái dă man hơn cả thú vật giữa người với người, cái nhục mạ, hành hạ thân xác, tinh thần những nạn nhân vô tội, và cái chết bi thảm, rùng rợn, của những người bị đạp ra khỏi xă hội hiện diện trên mỗi trang giấy.

Một xă hội chỉ có nhu cầu ăn cho no, sẵn sàng đạp lên xác người khác để có bát gạo. Tṛ giải trí duy nhất là đi coi, hay tham dự đấu tố, cái vui duy nhất là nhục mạ, giết người trước đó là anh em, láng giềng hay ruột thịt.

(Dưới mỗi đoạn trích trong bài này, xin viết tắt:là trích từ cuốn Gia Đ́nh, ĐĐNT: Đoạn Đời Niên Thiếu).

 

CÁI TÀN ÁC MAN RỢ

Buổi chiều, tôi gấp một chiếc giẻ may vào phần đầu gối chiếc quần cho cha quỳ đỡ đau buốt. Đứa nào vay thêm vải này cho mày? Dạ thưa, con tư may. Lớp giẻ độn sau chiếc quần bị tháo ra. Đêm đó cha bị quỳ lâu hơn, đá nhọn dồn lên đầu gối sắc hơn hôm qua (GĐ. tr. 28).

Con đi bộ đội, một bà mẹ hiến đất, hiến của cho cách mạng:

-“Chum, vại, đàn trâu ḅ mẹ bán hết để mua công trái quốc gia, đóng thuế nông nghiệp. (…). Mẹ được tặng bằng “Gia đ́nh vẻ vang”. Con nhà người ta bị bắt đi tù, bị mang ra bắn, con ḿnh được bằng khen. Mẹ bảo tôi t́m cho mẹ một cái ống tre khô, cuộn tṛn tấm bằng khen, cất vào ống tre, để lên đầu giường. Một đêm, mẹ đang ngủ, dân quân gọi ra hội quán. Hôm sau tôi mang cho mẹ mấy củ khoai, thấy hai chân mẹ bị cùm, mẹ khóc. Hơn tháng sau, dân quân giải mẹ về, gọi tôi ra quỳ cùng với mẹ. Họ ra lệnh ǵ mẹ tôi cũng dạ” (ĐĐNT).

– “Ngoài sân như hội trường. Tiếng quát tháo, tiếng giành nhau đồ đạc. Cờ quạt dựng lên từ ngơ vào. Mẹ và bà nội bị bắt đi đâu không ai biết. Em tôi đói. Tôi cũng đói. Em lả dần và chết bên cạnh tôi. Người ta đấm đá vào lưng, vào gáy mẹ. Người ta lấy báng súng tọng lên lưng mẹ”.

 (GĐ, tr.39).

CÁI CƯỚP GIỰT:

Đó là một xă hội cướp bóc, từ trên xuống dưới, công khai. Nhà nước cướp: “lúa chưa kịp phơi khô. Phải nộp hết. Gọi là thuế nông nghiệp” (ĐĐNT. tr.18). Thuế nông nghiệp, thuế khả năng và hàng chục thứ thuế khác. Nhiều người bị kết án tử h́nh sau khi đă cống hiến tất cả, nhưng vẫn chưa đủ.

“Cha bị bắt đi quản huấn. Ở nhà, thỉnh thoảng mẹ tôi bị bắt đến nhà một cố nông để khai báo c̣n cất bao nhiêu vàng bạc, lúa gạo. C̣n ǵ mà khai báo. Vàng bạc đă cúng hiến cho kháng chiến trong “tuần lễ vàng”, lúa gạo đă cúng hiến cho chiến dịch ba tháng “góp gạo nuôi quân”, mùa lúa cuối cùng đă nộp hết cho thuế nông nghiệp” (GĐ. tr. 55).

Mặc dầu vậy, “mẹ tôi bị trói cổ tay bằng sợi dây xỏ mũi trâu ḅ, treo lên cành cây bưởi ở mé sân, chân không chạm đất. Đàn con ngồi trước mặt mẹ, chứng kiến mẹ bị treo lơ lửng”

(GĐ. Tr. 56).

Bị nhà nước cướp sách, dân đói, cướp lẫn nhau.

Mang nhau ra sỉ vả, tra tấn, hành hạ hay chém giết chỉ để cướp một cái chiếu sạch, một cái nồi đồng: “Mẹ dậy nhóm bếp, bẻ nửa nải chuối cho vào niêu luộc. Ánh lửa hất ra đường, cốt cán Hoe Năng đi tuần phát hiện, vào kiểm tra đang nấu ǵ. Chuối ở đâu ra (…). Tịch thu, của ni không phải của mi. Hoe Vinh bê niêu chuối trên bếp lẫn nửa nải chuối chưa luộc, mang đi” (ĐĐNT. tr. 34).

Cái cảnh cướp giựt, từ một miếng cơm, không biết nên cười hay nên khóc: “Cả nhà ăn bữa cơm đầu tiên. Đang ăn, dân quân đứng ngoài nh́n vào. Mẹ nhanh trí làm động tác như đang húp cháo, nghĩ là ăn cháo, dân quân bỏ đi” (ĐĐNT. tr. 50).

“Trước khi đi ngủ, tôi xếp mười chiếc nón vào hai cái thúng. Sáng dậy gánh đi chợ hạ. Ra đầu ngơ bị dân quân tịch thu.” Đây là âm mưu của địa chủ phân tán tài sản. Từng là chiến sĩ thi đua, được cả trường tôn trọng, nay gặp những chuyện vô lư như thế, tôi uất ức, khó chịu. Nhiều đêm không ngủ được, tôi nghĩ đến chuyện tự tử (ĐĐNT. tr.70).

Một người cha đi tù, chuyển lời về nhà: “Các con cứ để cho họ lấy hết. Một cái vung cũng không được giấu. Các con cố giữ lại thứ ǵ, tội cha to thêm thứ đó. Các con giữ thêm một đồ vật, cha bị kết tù thêm một năm” (GĐ. tr. 34).

 

CÁI ĐÓI:

Cái đói là một ám ảnh lớn. Trang sách nào cũng có chuyện ăn vỏ khoai, ăn lá cây, dành giựt nhau một nắm cơm, một bát cháo.

– “Bán 10 viên (kẹo vừng), lời 4 viên. Các cháu đói quá, ăn vụng mất của o, đang lời thành lỗ. Chị dâu làm bánh tẻ, bánh ít đem ra chợ. Người ta xúm lại bóc bánh ăn rồi đi, không trả tiền...” (ĐĐNT. tr. 18)

“Làm việc cả ngày, được nghỉ trưa một tiếng để ăn cháo. Chị nấu ăn hôm đó dùng thùng thuốc trừ sâu đựng cháo. Thùng chưa vệ sinh sạch. Mấy người ăn bị ngộ độc. Họ nghi tôi, con địa chủ, bỏ thuốc độc vào nồi cháo. Không ai ăn cùng mâm, không [ai] nói chuyện với tôi” (ĐĐNT. tr. 20).

Đôi khi người đọc mỉm cười: Mẹ bị tố, cả nhà đói, người anh đi bộ đội gởi về tặng em một… trái ḿn, để đánh cá. Ḿn nổ trên mặt nước, chỉ chết vài con cá mương

(ĐĐNT. tr.36).

 

CÁI SỢ:

Cai trị bằng cái sợ là một chính sách, một lư thuyết chính trị của Lénine, được Staline, Mao, Pol Pot và những đệ tử Việt Nam trung thành áp dụng triệt để.

Sợ từ khi c̣n ngồi ghế nhà trường: “Lúc nào cũng mang nỗi sợ. Sợ mà không biết sợ ǵ” (GĐ. tr. 42).

“Văn đệ tứ, phải chọn giữa 3 đề, đề 2: B́nh luận một câu của Trường Chinh, đề 3: Phương pháp tả người của Nguyễn Du. Cả lớp làm đề 3. Dại chi làm đề kia, viết hớ hênh một câu mất lập trường là nguy” (ĐĐNT. tr.21).

Cái sợ bám vào nạn nhân suốt đời, như một người cao tuổi, trong Gia Đ́nh, tới nay vẫn không dám thắc mắc một chuyện ǵ:

Quá nửa đêm, dân quân không canh nữa, tôi vẫn sợ. Tôi đă tiểu ra quần. Nỗi khiếp sợ năm mười lăm tuổi. Nay tám mươi hai, tôi vẫn là một ông già sợ hăi. Tôi không dám thắc mắc một chuyện ǵ. Muốn viết đôi điều cho con cháu biết về cha ông ḿnh, cầm bút lên tôi lại run”.

 

CÁI CHẾT:

Hậu quả của sự tàn bạo là cái chết. Chết v́ bị treo cổ, treo đầu nón chân, bị đánh đập, tra tấn, v́ đói, v́ tự tử.

– “Chị ngồi tựa lưng vào gốc cây dối, dải yếm trễ xuống, thằng con như con nhái bén vẫn đang nhay vú mẹ. Lúc đó chị đă chết rồi mà tôi không biết” (ĐĐNT. tr. 41)

– “Bà nội chết v́ rét hay v́ đói. Từ hôm bị trúng viên gạch thằng Kỷ, bà nằm một chỗ. Ba năm sau bốc mộ bà, thấy hai chiếc xương sườn bị gẫy” (GĐ).

 

HUẤN LUYỆN CĂM THÙ:

Người ta tự hỏi: Tại sao những người nông dân, vốn hiền lành, đă trở thành ác quỷ?

Con người có thể trở thành thánh, hay thú vật, tuỳ môi trường sống, tuỳ giáo dục. Lịch sử đă chứng minh điều đó, với xă hội Đức dưới thời Hitler, Nga dưới Stalin, Tàu dưới Mao, Cao Miên dưới Pol Pot. Việt Nam không phải là một ngoại lệ, nếu điều đó có thể an ủi người Việt.

Tất cả tṛ đấu tố đều học của Tàu, cố vấn Tàu sang dạy cách xử án, quy định tỷ số địa chủ phải mang ra làm thịt.

Đó là một xă hội xây dựng trên sự căm thù, được dạy dỗ, tập luyện từ nhỏ, từ ghế nhà trường:

– “Thầy giáo nói hôm nay nghỉ học để tối đi đấu địa chủ… Xen vào những buổi đi học b́nh thường là những buổi nghỉ học để tối đi dự đấu tố. Học sinh đến trường tập trung. Mỗi em một bó đuốc, vừa đi vừa hô. Tôi cũng hô to không thua ǵ các bạn” (ĐĐNT. tr.64).

– “Tấm biển “Địa chủ” dựng trước sân. Tôi hất đi th́ hôm sau thằng bạn học cùng trường đến dựng lên. Trước đây nó cùng đội thiếu niên, tôi liên đội trưởng, nó liên đội phó” (ĐĐNT. tr. 49).

Được dạy dỗ như vậy, bọn trẻ thơ ngây trở thành ác quỷ. Có lẽ cái giết sự ngây thơ, trong trắng của tuổi thơ, nó c̣n ghê rợn hơn cả chuyện giết người.

– “Bị đuổi dạy, thầy giáo Banh nấu nước chè xanh đi bán ở các làng khác, khi về đến đầu làng bị nhóm trẻ con xúm vào đập vỡ hết bát, ném xuống sông, thầy ngồi khóc trên cầu”

(ĐĐNT. tr.87).

- “Ê con địa chủ, con địa chủ. Mấy đứa lao vào tôi. Bọn con gái không đánh được th́ giật tóc, gơ đầu, cấu véo. Tan học là tôi chạy. Cả đám rượt đuổi. Đuổi theo về đến nhà. Đánh chết thằng con địa chủ này” (GĐ tr.41).

 

NHỤC MẠ

Giết người chưa đủ, đánh tan nát gia đ́nh nạn nhân chưa đủ, chia nhau từng cái chổi cùn chưa đủ, c̣n phải nhục mạ người sống, người chết: ‘’Vườn của bác đă là vườn của nông dân. Không được chôn địa chủ trong vườn nông dân” (GĐ. tr.23).

Có lẽ cái nhục mạ nạn nhân, cái thú man rợ khi tước đoạt luôn nhân phẩm con người chỉ có dưới chế độ Cộng Sản, đặc biệt là Cộng Sản Tàu và đàn em.

Dưới những chế độ độc tài khác, thường chỉ có cái ác.

 

SỬA SAI:

Năm 1957, Đảng nhận lỗi, sửa sai. Nhưng lỗi là lỗi của những phần tử quá khích. Đảng không thể có lỗi. Tại trường học, những ông hiệu trưởng, giáo viên trước đây được khen ngợi đă thành công trong việc giúp học sinh đấu tố nhau, bị kết tội do địch gài vào để phá hoại.

Nhà nước xin lỗi, thế là xong, yên chuyện, ai về nhà nấy, như không có chuyện ǵ xẩy ra. Như có người vô t́nh chạm vào tôi ngoài đường, xin lỗi. Dạ, không có chi.

Dù sao, chuyện Đảng công khai xin lỗi cũng cho phép gia đ́nh nạn nhân được khóc công khai những người đă bỏ mạng. Và cho phép rất nhiều tác phẩm về cải cách ruộng đất ra đời mà tác giả không đi tù hay mất mạng.

Mặc dù vậy, cái sợ h́nh như vẫn đâu đó.

Đại tá nhà văn Phan Kế Toại, đề tựa cho cuốn Gia Đ́nh, đề cao việc làm của tác giả, coi trọng việc đi t́m sự thực, không quên tḥng một câu, cho chắc ăn: “Mọi người cần chung tay cố gắng trân trọng sự đổi mới, ǵn giữ thành quả dân chủ để đất nước không bao giờ trở lại thời kỳ ấu trĩ như thế nữa”.

“Thành quả dân chủ”! Câu kết luận politically correct không khỏi khiến người đọc mỉm cười, khi nghĩ đến thực trạng Việt Nam ngày nay về nhân quyền, về tự do báo chí, tự do tín ngưỡng…

Trong cùng một bài tựa, ông Toại kể: “Trong gia đ́nh tôi (…), nhiều người đă bị quy địa chủ, phú nông hoặc phản động. Người bị tịch thu tài sản, người tự vẫn, người bị bắt giam, bị cùm chân, người bị xử tử”. Dùng chữ “ấu trĩ” cho một xă hội lở lói khủng khiếp như vậy, có lẽ hơi nhẹ.

Bao nhiêu người là nạn nhân của “cách mạng?” Theo BBC, nhà nghiên cứu Mông Cổ Balazs Szalontai khai thác các tài liệu Đông Âu và Liên Xô, đưa ra con số 7,7 triệu người dân và hàng trăm gia đ́nh “buộc phải tham gia và chịu hệ luỵ” chỉ trong đợt giảm tô. Trong đợt chính thức Cải cách Ruông đất, 4 triệu người “chịu tác động”. Tác giả Hoàng Minh Chính đưa ra con số nửa triệu người (5% dân số miền Bắc) bị chính quyền VNDCCH giết.

Riêng Cải cách Ruộng đất, theo Bernard Fall, 50.000 người bị xử tử, ít nhất gấp đôi bị tù cải tạo (BBC 3/2/2022) (2).

Le Livre Noir du Communisme (Sổ Đen của Chủ Nghĩa Cộng Sản) do sử gia Stéphane Courtois chủ biên, cũng đưa ra con số 50.000 người bị xử tử, từ 50.000 tới 100.000 người bị đưa đi tù cải tạo (3).

Le Livre Noir là một cuốn sách dày 662 trang, do các sử gia, kư giả, giáo sư Pháp biên soạn, tố cáo những tội ác của Cộng Sản quốc tế, với 100 triệu nạn nhân đă bỏ mạng để xây dựng “XHCN”.

 

ALEXIEVITCH và NGÀY TÀN CỦA NGƯỜI ĐỎ:

Đọc Phan Thuư Hà, người ta nghĩ tới việc làm nhà văn Nga Svetlana Alexievich. Sinh năm 1948, cha người Biérusse, mẹ người Ukraine, Alexievich, trong gần 40 năm, với cây bút và máy ghi âm, đi gặp và ghi lại lời kể, tâm trạng của người Nga sau tai nạn Tchernobyl, sau ngày Nga – Xô Viết sụp đổ, trong cuộc chiến của Nga ở Afghanistan (1).

Trong Les Cercueils de zinc (Những chiếc quan tài bằng kẽm – 1990), bà ghi lại tâm trạng của những bà mẹ, bà vợ, có chồng con chết ở Afghanistan, để thoả măn tham vọng của Putin. Những xác chết từ mặt trận được chở về trong những chiếc quan tài bằng kẽm (zinc).

Bà viết: “Cái can đảm chiến đấu của người Cộng Sản chỉ là huyền thoại. Chẳng có anh hùng ǵ cả, chỉ có những người lính trẻ bị lường gạt, đưa đi làm mồi cho đại bác, bị khủng bố, phải tiếp tục v́ sợ”.

Cuốn sách nổi tiếng nhất của Alexievich, “La Fin de l’homme rouge. Le temps du désenchantement” (Cái chết của người đỏ. Thời gian vỡ mộng), được nhiều nhà phê b́nh coi là cuốn sách hay nhất, quan trọng nhất trong năm 2013), vạch rơ thực chất của người Cộng Sản (người đỏ), cái ảo tưởng xây dựng xă hội đại đồng, sự thực chỉ là một cuộc lừa gạt đẫm máu để nắm quyền.

Sau khi Nga Xô Viết sụp đổ trong 3 ngày, như đă lên nắm chính quyền trong 3 ngày, để viết La fin de l’homme rouge, Svetlana Alexievich đi khắp nước Nga, nghe tâm sự của những người vỡ mộng về ảo tưởng thế giới đại đồng, lạc lơng trong một thế giới mới, xa lạ.

Bà nói, “có lẽ cái thành công duy nhất của người Cộng Sản là đă huỷ hoại nhân tính, để tạo những người Nga mới, không c̣n nhân phẩm”.

Alexievich nói, trong một cuộc phỏng vấn, dụng ư của bà là qua những nhân chứng thực để tạo những tác phẩm văn chương.

“Mục đích của tôi không phải làm điên đầu người đọc với những chuyện kinh hoàng, nhưng rút tỉa ư nghĩa từ những cái kinh hoàng đó. Và giúp con người tiếp tục c̣n là con người. Làm biến dạng con người, đó có lẽ là cái duy nhất đă thành công (ở Nga Xô Viết). (Mon objectif n’est pas d’assommer (les lecteurs) par toutes les horreurs que j’écris, mais d’en extraire du sens. Et de permettre à l’humain de rester humain. Transformer l’homme. C’est peut être la seule chose qui ait marché).

Alexievich đoạt giải Nobel Văn chương năm 2015 cho toàn bộ tác phẩm của bà.

Phan Thuư Hà không có tham vọng đó. Bà chỉ ghi lại lời kể chuyện của những nạn nhân c̣n sống sót.

Tác giả “Đoạn Đời Niên Thiếu” viết trong lời tựa: “Sáu năm qua, viết sách, tôi được gặp [người] nhiều tuổi quê Nghệ Tĩnh. Các ông bà đều tuổi trên tám mươi, chín mươi. Họ là con của những người yêu nước, tham gia cách mạng, bị Pháp bắt tù đày vào năm 1930-31, lớn lên trong những năm kháng chiến (…). Với những ǵ họ trải qua, nếu không ghi lại th́ tiếc quá”.

“Gia Đ́nh”, “Đoạn đời niên thiếu” là những cuốn sách nên dịch ra ngoại ngữ, để người ngoại quốc, hay thế hệ người Việt trẻ hiểu rơ thực trạng Việt Nam, hơn là những cuốn sách của những người chưa bao giờ đặt chân tới xứ này, hay chưa hề sống trong hoả ngục.

Cũng như những tác phẩm của Alexievich nên dịch ra tiếng Việt, để thức tỉnh những người, ở thế kỷ 21, vẫn c̣n là những ông già ngồi đan rổ, mơ nước Nga, như trong thơ Tố Hữu. Cũng hy vọng sẽ có nhiều cuốn sách tương tự, ghi lại chuyện thực, của những người di cư 1954, những nạn nhân tết Mậu Thân, của boat people, hay những ngày miền Nam, trước và sau 1975.

 

CHUYỆN CẦN LÀM

Đă có rất nhiều sách, báo về những chuyện này, nhưng vẫn chưa đủ. Cần một tài liệu đồ sộ ghi lại các nhân chứng.

Tôi nghĩ tới chuyện này, cách đây mấy chục năm, khi viếng thăm một thư viện ở Do Thái, nơi tập trung hàng trăm ngàn sách, băng nhạc, ghi âm lời kể của những nạn nhân, hay gia đ́nh nạn nhân Shoah c̣n sống sót.

Ngày nay, nhiều người Việt đă thành công ở hải ngoại, dư tài chánh, có dư khả năng làm việc đó, thay v́ làm những chuyện tào lao. Thí dụ tài trợ cho những nhóm trẻ đi phỏng vấn, thu thập dữ kiện ở tất cả những nơi người Việt tỵ nạn cư trú.

Đó là chuyện khẩn cấp. Bởi v́ nhiều nhân chứng cao niên đang lần lượt ra đi.

Việc làm của Phan Thu Hà, hay những việc làm tương tự, sẽ là những chất liệu quư cho những người sau này muốn viết văn, viết sử hay nghiên cứu về Việt Nam cận đại.

Nếu không, thế hệ sau này sẽ không biết ǵ về quá khứ. Nếu muốn t́m hiểu lịch sử đất nước chỉ có sách vở của những người muốn viết lại lịch sử, hay những người ngoại quốc, nói chuyện VN dưới lăng kính chính trị hay bác học, không có chất liệu sống./.

 

 

 


Văn


Hỏi ngă chánh tả tự vị
Cách sử dụng "I" và"Y"...
Cải cách tiếng Việt
Dấu "hỏi & ngă" trong tiếng Việt
Luật dấu hỏi & ngă
Gạch nối trong tiếng Việt
Xưng hô tiếng Việt...


Các cấp chỉ huy và đồng đội TQLC

Lạng Sơn Thiếu Tướng Bùi Thế Lân
Tango Đại Tá Nguyễn Thành Trí
Sài G̣n Đại Tá Tôn Thất Soạn


Ḷng biết ơn nhân ngày Lễ Những Người Cha 2024
Một ngày không thể quên
Giầy Saut trong tử địa
Những nhân chứng sống sót của một thời thảm khốc
Tôi đi khám Bás Sĩ
Bóng người hay bụi sương?
Lần đầu nhập trận
Cố Trung Tá Nguyễn Văn Nho
Trước sau như một!
Louisiana 2023 – Rằn Ri gặp mặt
Môt ban nhạc lạ đời
Những điều ít người biết về bài hát "Kỷ vật cho em"
An Dương
Ngược ḍng thời gian
Người lính cuối cùng
T́m tự do
Tù cải tạo…Những nỗi buồn khó phai
Danh sách Quân Dân Chính chết trong tu cải tạo
Đón xuân này nhớ xuân xưa
"Tù cài tạo" - Những nỗi vui buồn khó quên
Trở lại Cổ Thành
Những ngộ nhận về chiến tranh Việt Nam từ phía Hoa Kỳ
Gặp gỡ Chú Long Hồ
Tango: Ngày này năm xưa! Ngày này năm nay!
Saigon đă tṛn năm
Ngày về từ rừng núi Hiệp Đức
Trường Sơn bỏ lại sau lưng
Cuộc hành tŕnh
Bên kia bờ sông Thạch Hăn
Chung g̣ng định phận
Kỷ niệm cổ thành Đinh Công Tráng - Quảng Trị 1972
Thiên hùng ca dựng một ngọn cờ
Cố vấn TQLCHK trao Bronze Star cho NT Đặng Bá Đạt
Nhật Kư Cali: Ngàn năm mây bay
Quỳ hôn đất thân yêu
Sau 46 năm nước mắt vẫn c̣n rơi!
Chuyện mắc dịch
Vui buồn cùng Cọp Biển
Cái ǵ của Cesar … Cái ǵ của Thương Phế Binh …
Hỏng rồi tiếng nước tôi !!! Phần 1 - Phần 2
Bạn tôi, người y tá tên Ri
Hai bà chị
Trận đánh tháng 3/75 Quân Khu I
Thu hát cho người
Sự nghiệp 4 chữ, lư tưởng 2 chữ
TĐ2/TQLC Tiêu diệt chiến xa CSBV thuộc Trung Đoàn Tăng-Thiết Giáp 202
T́nh với Nghĩa
Xuân ở nơi nào?!
Tuổi 70, Chán mớ đời!
Họ nhà "Cu"
Con sáo bạc má và người tù
Quân khu IX ơi. Chào mi!
Chuyện về bức tượng TQLC
Tháng 3, kư ức về anh
Ngày ra trại
Một buỗi chiều xuân
Đêm xuân Đà Lạt
Nhánh mai vàng
Phục Hưng Tự